Chuyển đến nội dung chính

NSAID liên quan đến nguy cơ chảy máu ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim

Kể cả khi điều trị ngắn hạn với các thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) như ibuprofen cũng làm tăng nguy cơ chảy máu ở bệnh nhân dùng thuốc chống đông sau nhồi máu cơ tim. Đó là kết quả từ một nghiên cứu được công bố trên JAMA.



Tất cả bệnh nhân đã bị nhồi máu cơ tim đều được khuyến cáo dùng 2 thuốc chống huyết khối (aspirin và clopidogrel) để điều trị dự phòng có thể tới một năm sau cơn đau tim và tiếp tục dùng một thuốc sau đó.

Nguy cơ chảy máu được biết là sẽ tăng sau khi dùng thêm NSAID và một số thuốc có tác dụng đối lập với các thuốc dự phòng bệnh tim hay ức chế tác dụng chống huyết khối của aspirin.

Các phác đồ của Hiệp hội Tim Hoa Kỳ (American Heart Association - AHA) khuyên không nên dùng NSAID ở người liên quan đến bệnh tim.

Tuy nhiên, trong nghiên cứu này - đứng đầu bởi TS. Anne-Marie Schjerning Olsen từ Bệnh viên Đại học Copenhagen Gentofte, Hellerup, Đan Mạch thì 34% trong số 61 971 bệnh nhân còn sống sau một cơn nhồi máu cơ tim được dùng một NSAID ít nhất một lần.

Nghiên cứu chỉ ra "không có một giai đoạn điều trị an toàn nào", tác giả bổ sung:
"Sử dụng NSAID ít hơn 3 ngày cùng với liệu pháp kháng tiểu cầu kép có liên quan đến việc tăng đáng kể nguy cơ chảy máu."

Tác giả cho biết: "Những nguy cơ này có liên quan đáng để đến sức khỏe cộng đồng, chính xác là việc sử dụng rộng rãi của NSAID."

TS. Schjerning Olsen và cộng sự đã sử dụng dữ liệu ở Đan Mạch trong những năm 2002 đến 2010 để phân tích những bệnh nhân từ 30 tuổi trở lên đã có cơn nhồi máu cơ tim lân đầu và những người đã sống 30 ngày sau khi ra viện. Họ được điều trị sau đó với aspirin, clopidogrel hay các thuốc chống đông đường uống khác hay phối hợp cũng như việc phối hợp với NSAID.

So với nhóm không dùng NSAID, nhóm sử dụng các thuốc như ibuprofen, diclofenac và naproxen - cho kết quả làm tăng nguy cơ chảy máu trên 2 lần.

Nguy cơ cao này không liên quan đến thuốc chống huyết khối hay loại NSAID sử dụng và cũng không liên quan đến thời gian sử dụng. Nguy cơ biến cố tim mạch cũng tăng lên.

Trong giai đoạn 3,5 năm sau, số ca tử vong là 18.105 (29%). Trong đó có tổng cộng 5.288 biến cố chảy máu (9% - 799 trường hợp trong số đó tử vong) và 18.568 biến cố tim mạch (30%).

Tỉ lệ chảy máu mỗi 100 người-năm là 4,2 biến cố khi bệnh nhân sử dụng đồng thời NSAID và 2,2 biến cố với nhóm không sử dụng, điều này tương đương với việc nguy cơ tăng lên 2,02 lần.

Biến cố chảy máu được định nghĩa như một vấn đề cần nhập viện hay tử vong do:


    • Xuất huyết nội sọ

    • Xuất huyết tiêu hóa - xuất huyết do loét, nôn ra máu, phân đen hoặc không đặc trưng

    • Xuất huyết đường hô hấp hay đường tiểu.



Thiếu máu do chảy máu.

Tỉ lệ ở mỗi 100 người -năm của các biến cố tim mạch là 11,2 biến cố đối với người có điều trị với NSAID, so với 8,3 biến cố ở nhóm không điều trị, tương đương với việc nguy cơ tăng 1,4 lần. Các biến cố tim mạch như là:

  • Tử vong do bệnh tim mạch

  • Cơn nhồi máu tái phát không gây tử vong

  • Thiếu máu cục bộ (do tắc nghẽn động mạch lên não)

  • Cơn thiếu máu thoáng qua

  • Hẹp động mạch chủ.


Tác giả kết luận: "Cần nhiều nghiên cứu hơn để xác nhận những kết quả này, tuy nhiên, các bác sĩ nên thận trọng khi kê NSAID cho bệnh nhân mới trải qua cơn nhồi máu cơ tim."

GeekyMedicine dịch - Markus MacGill (MNT)

Nhận xét

  1. Anh có thể cho em bài báo gốc được ko ạ, e muốn đưa thông tin này vào tập san thông tin thuốc của bọn em ạ. Email: toanpharma@gmail.com

    Trả lờiXóa

Đăng nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

N-acetylcystein giúp ngăn ngừa độc tính trên thính giác của aminoglycosid

Một nghiên cứu cho thấy rằng N-acetylcystein có lợi trong việc năng ngừa độc tính trên tai của nhóm kháng sinh aminoglycosid vốn nổi tiếng vì gây chết các tế bào ốc tai.

Các nhà nghiên cứu đang kêu gọi tiến hành thử nghiệm lâm sàng để xác định hiệu quả bảo vệ của N-acetylcystein trong việc giảm nguy cơ điếc khi dùng aminoglycosid ở bệnh nhân lao đa kháng (Multidrug-reistant tuberculosis - MDR-TB). Theo nghiên cứu đăng trên tạp chí Thorax ngày 15 tháng 9 năm 2015, các kết quả cho thấy chất chống oxy hóa này có tác dụng bảo vệ thính giác khi sử dụng chung với aminoglycosid.

Cụ thể, nghiên cứu chỉ ra N-acetylcystein bảo vệ thính giác khi dùng aminoglycosid khi sử dụng trong vài tuần nhưng nếu dùng trên bệnh nhân MDR-TB thì cần nhiều tháng.

Các nhà nghiên cứu thấy rằng 3 trong số 86 nghiên cứu được báo cáo cho thấy tác dụng của N-acetylcystein trong việc ngăn độc tính trên thính giác khi dùng với aminoglycosid, bao gồm 146 bệnh nhân cùng với suy thận giai đoạn cuối và viêm phúc mạng hay n…

Thuốc tương tự sinh học đầu tiên vào thị trường Mỹ

Những thuốc là protein có cấu trúc phức tạp như filgrastim đã gây khó khăn cho việc tạo ra phiên bản generic.



Sau nhiều tranh cãi, FDA đã cho phép bán các thuốc tương tự sinh học (biosimilar) - phiên bản rẻ hơn của các thuốc sinh học đắt tiền và phức tạp được sử dụng để điều trị nhiều bệnh như ung thư hay bệnh tự miễn. Ngày 7 tháng 1, hội đồng cố vẫn của FDA đã nhất trí thông qua một thuốc của Sandoz, một nhánh về thuốc generic của Novartis, được phép thay thế cho filgrastim (Neupogen), một thuốc tăng cường miễn dịch cho bệnh nhân điều trị ung thư của Amgen of Thousand Oaks, California.

FDA cập nhật Quy định về Nhãn thuốc dành cho Phụ nữ mang thai và Cho con bú

LTS (Medscape): Cục Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã thông báo về việc sửa lại qui định ghi nhãn thuốc liên quan đến phân loại nguy cơ đối với phụ nữ mang thai và cho con bú. Một số thay đổi bao gồm:

Các tiểu mục "pregnancy" (mang thai), "labor and delivery" (chuyển dạ và sinh con) và "cho con bú" (nursing mother) sẽ bị thay thế là "pregnancy" (mang thai), "lactation" (cho con bú) và một phần mới là "females and males of reproductive potential" (phụ nữ và nam giới trong độ tuổi sinh sản).
Tiểu mục mang thai và cho con bú sẽ bao gồm thông tin từ nghiên cứu trên người và động vật, đã biết hoặc tiềm năng gây phản ứng có hại đối với bào thai hoặc mẹ và cần thiết phải điều chỉnh liều trong khi mang thai và giai đoạn sau sinh (postpartum).
Phần về phụ nữ và nam giới trong độ tuổi sinh sản sẽ bao gồm thông tin về việc kiểm tra tình trạng mang thai, biện pháp ngừa thai và ảnh hướng có thể xảy ra của thuốc đối với việc thụ …