Thứ Hai, 18 tháng 8, 2014

Phương thuốc "thần kỳ" điều trị Ebola bắt nguồn từ y học thế kỷ 19

Liệu pháp kỳ diệu để điều trị cho hai người Mỹ nhiễm virus Ebola là tiêu điểm của tuần qua, nhưng phương thuốc này bắt nguồn từ đâu?Trong một tường thuật khoa học, TS. Scott Podolsky viết rằng ý tưởng về thuốc này có nguồn gốc từ một nghiên cứu tiên phong từ cuối thế kỷ 19.

Theo WHO ngày 6 tháng 8, TS. Karl Brantly và Nancy Writebol từng làm việc tại bệnh viên ở Liberia, nơi mà họ tiếp xúc với virus chết chóc Ebola - loại virus chịu trách nhiệm cho 961 cái chết suốt giai đoạn bùng nổ.

Một trong những bệnh nhiễm mạnh nhất thế giới, Ebola có tỉ lệ tử vong đến 90% và được đặc trưng bởi cơn sốt đột ngột, yếu cơ, đau cơ, đau đầu và viêm họng.

Hiện tại, thuốc cho bệnh này chỉ giới hạn cho trường hợp chăm sóc hỗ trợ tích cực. Tuy nhiên, những nhân viên này có cơ hội được sử dụng ZMapp - một thuốc thử nghiệm chỉ được thử trên khỉ trước đó - và thuốc này đã cứu sống họ.

TS. Scott Podolsky, PGS về Y tế cộng đồng và Sức khỏe Toàn cầu tại trường Y Harvard, đã viết trong Annals of Internal Medicine rằng ZMapp có nhiều điểm chung với các phương thức trị bệnh được phát triển vào cuối thế kỷ 19.


Lịch sử có tự lặp lại?


ZMapp là ba loại kháng thể đơn dòng từ chuột; nó được tạo ra bằng cách thu gọp các kháng thể tạo ra trong máu chuột sau khi phơi nhiễm với những mảnh của virus Ebola. Podolsky viết rằng phương thức này giống với liệu pháp huyết thanh thụ động được phát triển hơn một thể kỷ trước.

Ông viết, phương pháp luận này lần đầu bắt đầu phát triển sau những khám phá của nhà vi sinh học Louis Pasteur và Robert Koch, là những người đã xác định những tác nhân gây bệnh như bệnh than, bạch hầu và viêm phổi.

Vào năm 1890, yếu tố thể dịch được khám phá ở những động vật nhiễm bệnh có thể chuyển vào động vật thí nghiệm để bảo vệ chúng khỏi độc tố của bạch hầu và uốn ván.

Podolsky viết về cách mà khám phá này đưa đến thuốc điều trị cho người:
"Từ những năm 1890 đến nay, mô hình sản suất - phơi nhiễm một động vật (lợn guinea, thỏ, bỏ, ngựa, v.v...) với một tác nhân gây bệnh vi sinh đã biết, tạo ra kháng thể (hoặc sử dụng huyết thanh của bệnh nhân đã nhiễm đang dưỡng bệnh), và sau đó chuyển thụ động kháng thể tạo trước vào một động vật hoặc người đã phơi nhiễm - có thể mở rộng đối với các bệnh phổ biến và đáng sợ như viêm phổi do phế cầu hay viêm màng não do meningococus"

Liệu pháp huyết thanh cũng được hoàn thiện trong suốt nửa đầu thế kỷ 20 trong những nghiên cứu có kiểm soát tập trung vào viêm phổi do phế cầu, được xem như "the Captain of the Men of Death".

Liệu pháp huyết thanh chỉ hiệu quả khi tác động tới một chủng cụ thể của bệnh. Podolsky viết: "bệnh nhân một khi hấp hối được giống đang ngồi trên giường và đọc báo của ngày mai."

Trong một số trường hợp, có thể tác động tới sự bình phục của những bệnh nhân bên bờ vực của cái chết, như trong trường hợp TS. Karl Brantly. Sau khi được cho ZMapp, Brantly đã gọi cho vợ ông để nói lời chào cuối cùng. May thay cho họ, lời chào là quá sớm.

Điều gì xảy ra tiếp theo?


Mặc dù hai người Mỹ đang hồi phục nhưng vẫn có nhiều điều không chắc chắn xung quanh ZMapp và vai trò của nó trong tương lai của dịch Ebola.

Nhiều người ngạc nhiên sao thuốc không được đưa tới những người đang nhiễm bệnh. Vì ZMapp vẫn là thuốc thử nghiệm, chưa được thử trên người trước đó, cơ quan chức năng cho biết sẽ không có việc thuốc được sử dụng phổ biến mà không có nghiên cứu xa hơn.

Những người được sử dụng ZMapp nhờ tinh thần nhân đạo của nhà sản xuất, vì WHO và tổ chức Samaritan's Purse (nơi họ làm việc) nói rằng họ không tài trợ thuốc. Thuốc chưa được FDA cho phép sử dụng rộng rãi.

Họ được xem là trường hợp may mắn vì đó là niềm hi vọng rằng thành công của thuốc này có thể thúc đẩy vaccine được cấp phép đầy đủ để đối phó với sự đe dọa của Ebola.

Podolsky tin rằng những thời đại trước của liệu pháp huyết thanh thụ động có thể đưa ra những ý tưởng xa hơn cho những thuốc trong tương lai. Các liệu pháp kháng khuẩn như liệu pháp phage thực khuẩn, probiotic và liệu pháp huyết thanh thụ động đều có cùng nguồn gốc và có thể trở nên ngày càng quan trọng vì càng ngày càng có nhiều bệnh đề kháng với kháng sinh.

(Geeky Medicine dịch - James McIntosh, MedicalNewsToday)

Share:

0 nhận xét:

Đăng nhận xét